close
Rti Tiếng ViệtTải App RTI ngay
Mở
:::

Ep.22: Các khu hành chính không phải là “hộ khẩu” của dân tộc nguyên trú - Cơ chế ủy ban đồng quản lý của dân tộc nguyên trú và hội đồng dân tộc

  • 22 April, 2024
Báo tuổi teen

“Văn hóa Atayal không có người lãnh đạo, khi gặp tranh chấp ở các khu vực truyền thống, họ thường mời những người có uy tín từ các bộ lạc lân cận đến hòa giải, cho hai bên tranh chấp ngồi đối diện nhau để thảo luận và giải quyết vấn đề. Đây là nghi lễ tìm ra sự thật và hòa giải của người Atayal, đây được gọi là “sbalay”. Trong các tranh chấp truyền thống, chức năng của sbalay đã được thay thế bởi “Đoàn xem xét các vấn đề gây tranh cãi” của Ủy ban dân tộc nguyên trú thuộc Viện Hành chính Đài Loan, nhưng có thể không giải quyết được vấn đề.

Lâm Khải Ân, một thanh niên thuộc bộ lạc Atayal giải thích về truyền thống văn hóa và phương pháp quản lý của người dân dân tộc nguyên trúcũng như lý do tại sao hệ thống xã hội hiện tại không phù hợp với bộ tộc.

Lãnh thổ truyền thống của bộ lạc trở thành đất của nhà nước, Tổng thống Thái Anh Văn xin lỗi người dân tộc nguyên trú

Dân tộc nguyên trú là chủ sở hữu sớm nhất của vùng đất Đài Loan. Tuy nhiên, kể từ thời Nhật trị, Toàn quyền Nhật Bản đã phớt lờ lãnh thổ của các bộ lạc dân tộc nguyên trú  miền núi và coi rừng núi của Đài Loan là “đất hoang” và chỉ định chúng là tài nguyên quốc gia. Sau này, khi Chính phủ Quốc dân đảng đến Đài Loan vào năm 1945, họ cũng kế thừa chính sách rừng núi của Nhật Bản, biến những vùng đất vốn thuộc về các bộ lạc này trở thành đất thuộc sở hữu nhà nước. Nếu dân tộc nguyên trú muốn sử dụng đất đai của tổ tiên để trồng trọt, săn bắt và thu hái thực vật thì lại bị hạn chế và ngăn cấm bởi nhiều quy định khác nhau.

Vào ngày 1/8/2016, vào thời điểm đó Tổng thống Thái Anh Văn đã công khai gửi lời xin lỗi đến các dân tộc nguyên trú, bà bày tỏ rằng: “Xin cho tôi được dùng những từ ngữ đơn giản nhất để nói rõ lý do nguyên nhân vì sao lại muốn gửi lời xin lỗi đến các dân tộc nguyên trú. 400 năm trước mảnh đất Đài Loan này sớm đã có người sinh sống, những người này họ vốn đã có cuộc sống riêng của mình, có ngôn ngữ riêng, có văn hóa riêng, phong tục riêng. Nhưng sau đó lại bị một nhóm người (chỉ người Nhật Bản và Chính phủ Quốc dân Đảng) đến sinh sống trên mảnh đất này mà không có sự đồng ý của họ. Sau đó, nhóm người mới đến này lại bóc lột những người vốn đã sinh sống ở đây, khiến họ phải dời chỗ ở ngay trên vùng đất quen thuộc của họ, trở thành những người xa lạ, không chính thống và bị gạt ra ngoài lề xã hội. Đồng thời, “Ủy ban công lý lịch sử và cơ chế công lý về các tội lỗi trong quá khứ cho người dân tộc nguyên trú” được thành lập, cam kết sẽ làm việc với đại diện của tất cả các nhóm dân tộc để đối mặt với các vấn đề lịch sử và thảo luận về các hướng chính sách tiếp theo trên cơ sở bình đẳng.

Daab tộc nguyên trú đòi lại lãnh thổ truyền thống, tìm thấy đường trở về nhà

Số lượng dân tộc nguyên trú ở Đài Loan khoảng 589.000 người, chiếm 2,5% tổng dân số. Cuộc sống, văn hóa, lịch sử của dân tộc nguyên trú  đều bắt nguồn từ đất đai. Cốt lõi lâu dài của phong trào dân tộc nguyên trú  là đấu tranh giành quyền sử dụng đất đai. Tìm được đường về nhà là mong muốn lớn nhất của cả bộ tộc.

Năm 2016, “Các biện pháp tham gia thương lượng để nhận được sự đồng ý của các bộ lạc dân tộc nguyên trú ”  và  “Các biện pháp phân định ranh giới đất đai của dân tộc nguyên trú  hoặc các khu vực của bộ lạc” trong “Luật cơ bản của người dân tộc nguyên trú ” liên tục được sửa đổi và hoàn thiện. Trao cho mỗi bộ lạc   quyền phân định “các khu vực truyền thống” dựa trên khu vực sinh sống trước đây của họ và cho phép người ngoài thực hiện các quyền tham vấn và đồng ý trong việc phát triển đất đai, sử dụng tài nguyên, bảo tồn sinh thái và nghiên cứu học thuật ở “các khu vực truyền thống”. Phương pháp phân giới đất đai hiện nay được giới hạn ở “Đất công” có thể được xác định theo pháp luật.

Mặc dù tổng thống đã xin lỗi và đất nước đã ban hành luật trả lại công lý đất đai cho người dân bản địa, nhưng người dân dân tộc nguyên trúcó nền văn hóa và diễn biến lịch sử đặc biệt của riêng mình. Việc áp dụng cách phân chia hành chính hiện nay theo đất nước cho các bộ lạc dân tộc nguyên trú sẽ gây ra tranh chấp giữa các bộ lạc bản địa. Vì vậy, trong những năm gần đây đã xảy ra rất nhiều vụ việc gây tranh cãi.

[Sự kiện 1] Dự án phát triển suối nước nóng Pyahaw

“Làm đúng pháp luật” thực chất gây ra xung đột sắc tộc

Lâm Khải Ân là một thanh niên người dân tộc nguyên trú Atayal ở bộ lạc Pyahaw, Nam Áo (Nanao), Nghi Lan (Yilan). Ký ức tuổi thơ ngọt ngào nhất của anh là anh và những người lớn tuổi mang xẻng đến thung lũng Bắc Khê (Beixi), Nam Áo để tìm kiếm suối nước nóng Dã Khê, “chỉ cần bước lên bãi cát ấm, mọi người sẽ bắt đầu đào chăm chỉ cho đến khi nước chảy ra.”

Dã Khê, suối nướng nóng luôn nằm trong ký ức, đã được chính phủ và pháp luật công nhận trong những năm gần đây và được coi là tài nguyên du lịch trong lãnh thổ truyền thống của dân tộc nguyên trú . Năm 2010, Ủy ban dân tộc nguyên trú của Viện Hành chính đã phê duyệt kinh phí cải tạo Suối nước nóng Pyahaw  và đã được hoàn thành vào tháng 3 năm 2019. Sau khi được xác định là đây tài nguyên có liên quan đến bộ lạc và được tư vấn và đồng ý, nó đã chính thức bắt đầu hoạt động vào năm 2022.

Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 2023, suối nước nóng Pyahaw, chính quyền quận quản lý hoạt động kinh doanh đã chấm dứt hợp đồng do các yếu tố về thiết bị, chi phí và liên lạc với địa phương. “Luật cơ bản của dân tộc nguyên trú ” quy định rằng khi phát triển tài nguyên trong các khu vực truyền thống của dân tộc nguyên trú , phải có sự đồng ý hoặc tham gia của dân tộc nguyên trú  hoặc bộ lạc để đảm bảo rằng dân tộc nguyên trú  có thể chia sẻ lợi ích và quyền phát triển. Để tìm kiếm nhà sản xuất mới, bộ lạc Pyahaw  đã tổ chức ba cuộc họp bộ lạc trong sáu tháng qua. Khi cuộc họp bộ lạc được công bố và triệu tập thì lần nào cũng bị giải tán do không đủ người và liên tục bắt đầu mở cuộc họp lại.

Tại sao các phương tiện truyền thông lại đưa tin bộ lạc Pyahaw  là một “bộ lạc khó đối phó”?

Tổng giám đốc Hiệp hội thợ săn dân tộc Cao huyện Gia Nghĩa, giải thích rằng trong văn hóa dân tộc nguyên trú , “gia đình” và “bộ lạc” là những đơn vị sống cơ bản nhất cho đến khi các nhà nhân chủng học Nhật Bản bắt đầu tiến hành nghiên cứu và khảo sát ở Đài Loan, chỉ có dân tộc nguyên trú  ở Đài Loan mới có phân loại “sắc tộc”, “sắc tộc và bộ lạc cũng giống như những lớp học khác nhau trong một trường học, mỗi lớp học đều có quy tắc riêng, nhưng bề ngoài nhìn vào thì giống như một trường học.”

Do nhu cầu săn bắt và đánh cá, ở các khu vực rừng và thung lũng khác nhau, các bộ lạc và các gia đình trong bộ lạc sẽ có sự hiểu biết ngầm để phân biệt phạm vi sử dụng và suối nước nóng Pyahaw nằm trong lãnh thổ truyền thống của bộ lạc   Bích Hậu.

“Ban đầu, người đứng đầu xã trước đây xếp bộ lạc Pyahaw là “bộ lạc liên quan” duy nhất ở Suối nước nóng Pyahaw, nhưng người này tiếp theo cho rằng giao thông đường bộ cũng thuộc về việc phát triển tài nguyên du lịch, nên bộ lạc Ryohe liền kề cũng được đưa vào danh sách là bộ lạc có liên quan đến suối nước nóng Pyahaw”, Lâm Khải Ân giải thích với “Báo tuổi teen”.

Kể từ khi các bộ lạc dân tộc nguyên trú  bị buộc phải di dời trong thời kỳ thuộc địa của Nhật Bản và các cuộc di cư tập thể sau thiên tai, địa điểm của họ vẫn tiếp tục di chuyển. Ngày nay, trong cùng một làng hành chính, thường có những người từ nhiều bộ lạc và người Hán sống cùng nhau. bộ lạc   Pyahaw và bộ lạc   Ryohe thực sự thuộc các khu định cư khác nhau, nhưng hiện tại cả hai bộ lạc   đều thuộc “Làng Ryohe” trong khu hành chính của họ, vì vậy tranh chấp giữa hai bộ lạc   bắt đầu về việc suối nước nóng thuộc về bộ lạc   nào.

Người dân tộc nguyên trú không khó đối phó, chỉ là bị thiếu hụt cơ chế thảo luận truyền thống

“Bình thường chúng tôi đều biết khu vực nào là lãnh địa truyền thống của bộ lạc   nào. Kể cả bây giờ, khi chúng tôi đi chơi trong thung lũng của bộ lạc khác, nếu bị bắt gặp đang câu cá trong lạch nước và bị người dân tộc nguyên trúnhìn thấy, chúng tôi sẽ bị dòm ngó, đây là một ký ức “khắc cốt ghi tâm”, Lâm Khải Ân nói. Thậm chí ngày nay, thỉnh thoảng vẫn xảy ra xung đột vì xâm nhập vào các khu vực truyền thống để thu thập tài nguyên, từ mắng mỏ nhau đến các trận đánh nhau nghiêm trọng.

Lấy bộ lạc Atayal làm ví dụ, họ sẽ dùng phương thức “sbalay” để giải quyết vấn đề, tức là sẽ mời người có tiếng nói từ bộ lạc láng giềng để mời hai bên xảy ra tranh chấp cùng nhau đối mặt giải quyết vấn đề và giúp hai bên hòa giải để có thể trở về trạng thái như ban đầu. Nhưng hiện nay, phương thức “sbalay” đã bị thay thế bởi “Đoàn xem xét các vấn đề gây tranh cãi” của Ủy ban dân tộc nguyên trú thuộc Viện Hành chính Đài Loan, kết quả là mặc dù đã tìm được người dân tộc nguyên trú tham gia, nhưng trên thực tế thì không hẳn là như vậy và họ cũng không am hiểu về các bộ lạc ở địa phương. 

“Ủy ban dân tộc nguyên trú đã mời đại diện của hai bộ lạc đến Đài Bắc để họp. Đoán đánh giá còn bao gồm các học giả, chuyên gia, chính quyền và đại diện bộ lạc tham gia thảo luận. Tuy nhiên, đại diện bộ lạc là người đến từ bộ lạc Atayal ở phía Tây Đài Loan. Người đại diện bộ tộc Atayal ở phía Tây cũng rất khó hiểu và nói với tôi rằng: “Tại sao lại không mời bộ bộ lạc gần với của các anh?” Tại sao lại yêu cầu chúng tôi tham gia?” Lâm Khải Ân cho biết rằng, người đại diện bộ lạc này cũng rất e ngại khi đến cuộc họp để quyết định quyền sở hữu suối nước nóng cho hai bộ tộc. Cuối cùng, kết luận của đoàn xem xét chỉ là “Hãy quay lại với chính quyền địa phương và cơ quan hành chính để tăng cường phối hợp.”

Điều này đã khiến bộ lạc Pyahaw tổ chức các cuộc họp bộ lạc từ quyền sở hữu suối nước nóng, đồng ý vận hành chúng cho đến đấu thầu các nhà sản xuất. Tuy nhiên, các cuộc họp đã được tổ chức hàng năm kể từ năm 2019, khiến tính linh hoạt của bộ tộc bị cạn kiệt, và bây giờ các cuộc họp bộ lạc tiếp tục khó tổ chức hơn.

Các cơ chế và luật pháp khu vực công không thể giải quyết tranh chấp. Các nhóm dân tộc nguyên trú  Đài Loan hy vọng sẽ kết hợp các cơ chế thảo luận và ra quyết định hiện đại và truyền thống để giải quyết các vấn đề công cộng, chẳng hạn như hệ thống “người đứng đầu” của người Paiwan, “tổ chức tuổi tác” của người Puyuma và “Câu lạc bộ”, một số bộ lạc còn có hệ thống đồng thuận tập thể như “Hội nghị bộ lạc” tương tự như “Hội nghị trưởng tộc”.

“Đôi khi tôi nghĩ rằng trong các cuộc họp, tôi thường phải liên tục giải thích và dịch nội dung cho người khác, thậm chí có khi đến họp tôi còn phải xem rất nhiều tài liệu, hết cuốn này tới cuốn khác. Việc truyền đạt thông tin cũng không được khác biệt quá lớn như vậy việc đưa ra quyết định tập thể mới có ý nghĩa. Lâm Khải Ân nói: “Nếu trong các bộ lạc khác không có người trẻ như tôi thì phải làm sao? Nhất định cần phải có người giúp đỡ dịch thuật.”

Lâm Khải Ân lo lắng: “Hệ thống hành chính phải xử lý các hoạt động theo lịch trình quy định. Các cơ quan công quyền, chính quyền địa phương, hiệp hội dân tộc nguyên trú  và nhà sản xuất đều là những thế lực bên ngoài khác nhau. Khi họ lần lượt vào suối nước nóng Pyahaw, chúng tôi cũng sẽ lo lắng về việc người ngoài sẽ nhìn nhận người trong bộ lạc như thế nào. Sau nhiều năm đấu tranh, nhiều người trong bộ lạc cảm thấy các cuộc họp của bộ lạc là nơi để cãi vã và lo lắng bị coi là kẻ gây rối. Khi nói đến sự phát triển, cơ quan chính phủ ở quá xa các bộ lạc. “Đối với người trong bộ lạc mà nói điều này thường xuyên khiến họ cảm thấy không hài lòng.” 

Vụ việc suối nước nóng Pyahaw không phải là trường hợp đặc biệt. Nó cũng đã từng xảy ra với các bộ tộc khác. Ví dụ, trong vụ việc xây dựng điện quang ở vùng đất ngập nước Zhiben năm 2019, bộ tộc Kadadibu của bộ lạc Peinan đã phản kháng thụ động và từ chối triệu tập cuộc họp bộ lạc, Chính quyền thành phố Đài Đông vẫn thay mặt các đại diện của bộ lạc triệu tập cuộc họp bộ lạc, dẫn đến những tranh chấp tư pháp sau đó.

Lâm Khải Ân nói: “Không lẽ trong những năm gần đây liên tục xảy ra nhiều vụ việc nhưng vậy cũng không đủ để có thể sửa đổi luật hay đưa ra quy định mới hay sao?”

“Vụ việc 2” Bộ lạc Thao và BOT của Vườn Công ở Hồ Nhật Nguyệt 

Bộ lạc Thao bị yêu cầu rời khỏi khu vực của dân tộc nguyên trú 

Một số bộ lạc dân tộc nguyên trúthậm chí không được công nhận là “bộ lạc”, và một số đã bị “rút” khỏi các khu vực bản địa, và nghị viện không thể bảo vệ quyền lợi của họ.

Năm 2002, Ủy ban dân tộc nguyên trú đã nộp đơn lên Viện Hành chính để phê duyệt 25 thị trấn đồng bằng và 30 thị trấn miền núi là “khu vực thuộc dân tộc nguyên trú”. Tuy nhiên, chỉ những bộ lạc nằm trong khu vực dân tộc nguyên trúmới được công nhận là bộ lạc. “Bộ lạc rừng Đại Bình ” của người Thao nằm ở Thủy Lý, Nam Đầu bởi vì thị trấn nơi nó tọa lạc không đủ điều kiện để trở thành một khu vực thuộc dân tộc nguyên trú và không thể tổ chức các cuộc họp bộ lạc theo luật nên được gọi là “Khu định cư rừng Đại Bình” trong hệ thống hành chính, vì vậy họ thậm chí không có “quyền tham gia” vào các chính sách phát triển có liên quan của chính phủ.

Tổng dân số của người Thao chỉ hơn 800 người và họ đã sống quanh Hồ Nhật Nguyệt qua nhiều thế hệ. Họ hiện chủ yếu phân bố ở bộ tộc Ida Thao ở làng Nhật Nguyệt, huyện Ngư Trì, huyện Nam Đầu và khu định cư rừng Đại Bình ở xã Thủy Lý. Xã Ngư Trì thuộc khu vực dân tộc nguyên trú đồng bằng nên bộ lạc Ida Thao được hưởng địa vị pháp nhân của bộ lạc, có vẻ an toàn hơn dân tộc nguyên trú rừng Đại Bình.

Tuy nhiên, vào năm 2017, Chính quyền huyện Nam Đầu và các đơn vị khác thảo luận về trường hợp ủy thác cho tư nhân xây dựng và vận hành BOT Vườn công Hồ Nhật Nguyệt. Chính quyền huyện và cơ quan hành chính xã Ngư Trì không hài lòng với việc bộ lạc Ita Thao đề nghị Ngư Trì là lãnh thổ truyền thống của người Thao, và đã kháng cáo lên Viện Hành chính. Hiệp hội đã đệ đơn kiến ​​nghị và sau đó thông qua đề xuất tại cuộc họp đại diện của dân làng, đề xuất với Viện Hành chính rằng xã Ngư Trì nên “thoát’ khu vực thuộc người dân tộc nguyên trú. Mặc dù Viện Hành chính vẫn liên tục liên lạc nhưng điều đó cho thấy hội đồng địa phương có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của bộ tộc.

Vào thời điểm đó, người đứng đầu xã Ngư Trì cho biết trong một cuộc phỏng vấn với giới truyền thông đó rằng có hơn 15.000 người Hán trong xã, nhưng sự phát triển của toàn bộ xã phụ thuộc vào sắc mặt của dân tộc Thao, dân số chỉ hơn 300 người ở xã Ngư Trì để tránh xung đột sắc tộc ngày càng gia tăng nên mới đề xuất phương án này.

Do “Đạo luật tổ chức địa phương” hiện hành, chỉ người dân dân tộc nguyên trúcó dân số trên 1.500 người mới có thể được đảm bảo chỉ tiêu một ghế trong Hội đồng đại diện dân làng. Trong các cuộc bầu cử nhiều người, người Thao không thể cạnh tranh với hàng chục nghìn người không phải là dân tộc nguyên trú. Kết quả là tiếng nói của người Thao không thể được đại diện thông qua các đại hội ở làng xã, nên đôi khi hệ thống hành chính và nghị viện xâm phạm đến quyền lợi của người dân tộc nguyên trú.

[Sự kiện 3] Phong tỏa đườn Meqmeqi  

Dân tộc Truku bảo vệ sinh thái nhưng lại bị tố cáo

Vào năm 2014, bộ lạc Tomong của tộc Truku, nơi có danh lam thắng cảnh nổi tiếng “Meqmeqi” ở Tú Lâm, Hoa Liên, để phản đối sự thiệt hại nghiêm trọng đối với hệ sinh thái tự nhiên do rác thải và sự hỗn loạn của bãi đậu xe do du lịch gây ra, sau khi thông qua hội nghị của bộ lạc đã quyết định đóng cửa con đường, và theo phong tục đốt pháo và bắn súng cảnh báo để triệu hồi linh hồn tổ tiên đã khiến 9 người trong bộ lạc bị các nhà điều hành du lịch kiện vì các tội như cản trở tự do, vi phạm các quy định kiểm soát súng đạn và đe dọa.

Các nhóm dân tộc và bộ lạc khác nhau của dân tộc nguyên trú  có luật lệ và phong tục riêng để điều chỉnh cuộc sống hàng ngày của người dân trong bộ lạc. Ví dụ, trong dân tộc Taroko, “gaya” là một chuẩn mực xã hội trong văn hóa của dân tộc họ. Đó là điều răn duy trì nếp sống và phong tục hàng ngày của dân tộc. Đó cũng là điều ràng buộc nhất.

Tuy nhiên, trong cuộc sống thực tế của những người dân tộc trên núi, ngoài “gaya”, họ còn phải đối mặt với sự hạn chế của hàng chục luật lệ khác nhau như “Đạo luật Vườn Quốc gia”, “Đạo luật Bảo tồn Động vật hoang dã”, “Đạo luật Rừng”,...

Nghiên cứu của  giáo sư Vương Thái Thăng, trưởng Khoa Luật tại Đại học Quốc gia Đài Loan chỉ ra rằng, người Hán đã trải qua quá trình chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang đất nước hiện đại và dần dần biến các phong tục hiện có thành luật pháp, nhưng việc chuyển hóa này lại không xảy ra với xã hội của người dân tộc nguyên trú. Mặc dù người dân dân tộc nguyên trú đã trở thành chủ thể chính trị và pháp lý, nhiều luật đã được sửa đổi hoặc ban hành trên cơ sở bảo vệ quyền lợi tập thể của họ, nhưng vẫn còn những bất cập trong việc thực thi “Chỉ khi luật pháp quốc gia có thể tôn trọng hoặc kết hợp một cách thích hợp văn hóa pháp lý của người dân tộc nguyên trú thì nhà nước pháp quyền mới có ý nghĩa đối với họ.”

Đi tìm cơ chế cùng tồn tại: Từ ủy ban đồng quản lý đến hội đồng do 9 dân tộc thành lập

Liên quan đến hệ thống đồng quản lý các công viên quốc gia và danh lam thắng cảnh với người dân dân tộc nguyên trúở Hoa Kỳ, Canada và các quốc gia khác, một số cơ quan hành chính ở Đài Loan đang có kế hoạch áp dụng cơ chế “ủy ban đồng quản lý”, theo đó chính quyền địa phương hoặc các cơ quan hành chính cùng với các bộ lạc và nhóm dân tộc nguyên trú , tùy theo văn hóa và nhu cầu truyền thống, sẽ thu thập ý kiến ​​của bộ lạc về quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, khởi xướng và tổ chức một ủy ban đồng quản lý. Ví dụ, bộ lạc Macaran của dân tộc Paiwan ở Bình Đông hợp tác với chính quyền huyện Bình Đông để quản lý đường mòn Alang Yi, đóng cửa đường mòn từ tháng 7 đến tháng 8 hàng năm để giảm thiểu thiệt hại do con người gây ra đối với đất đai và môi trường sinh thái. Tuy nhiên, cơ chế đồng quản lý thường dễ thực hiện hơn ở các bộ lạc được tổ chức tốt.

Người Thao thành lập “hội đồng dân tộc Thao” vào năm 2005 nhằm xây dựng sự đồng thuận, đối thoại trong hệ thống hành chính với dân tộc làm trung tâm.

Cao Vinh Huy, đại biểu hội đồng Thao giải thích, hội đồng Thao gồm từ 1 đến 2 đại biểu do mỗi thị tộc trong 7 thị tộc bầu ra, nhiệm kỳ 2 năm, cộng thêm 2 lãnh đạo truyền thống cha truyền con nối, ngoài ra còn có hai ghế đảm bảo cho những người họ Bạch và Đan đến từ Rừng Đại Bình. hội đồng dựa trên hệ thống xã hội theo hệ thống đồng thuận của người Thao, người lãnh đạo truyền thống “người đứng đầu” cũng có thể tham gia vào các nghị quyết của hội đồng, tìm hiểu được chí hướng của dân tộc.

Tuy nhiên, do hội đồng vẫn chưa có tư cách pháp nhân nên những vấn đề do hội đồng quyết định thường vẫn phải được thực hiện thông qua Hiệp hội Phát triển Văn hóa Thao hoặc cuộc họp bộ lạc của bộ tộc Ita Thao.

Hiện nay, 9 trong số 16 dân tộc nguyên trú Đài Loan đã thành lập ủy ban dân tộc nguyên trú riêng. Nhóm mới nhất được thành lập là Paiwan, nhóm dân tộc nguyên trú lớn thứ hai. hội đồng Paiwan được thành lập vào tháng 8 năm 2022.

Phó giáo sư Khoa Khoa học Trái đất tại Đại học Quốc gia Thành Công và là người triệu tập hội đồng dân tộc Paiwan Ljegay Rupeljengan chỉ ra rằng, “hội đồng tạo ra một nền tảng dựa trên các bộ lạc, một cầu nối giữa các cuộc đối thoại và xây dựng một sự đồng thuận giữa quốc gia và các nhóm dân tộc, giữa các nhóm dân tộc với các nhóm dân tộc và giữa các bộ lạc với các bộ lạc”

hội đồng dân tộc Drekay có nguồn gốc từ truyền thuyết về “Công chúa Balenge” của dân tộc Drekayi, tổng thư ký hội đồng dân tộc Drekay và giáo sư tại Viện Khảo cổ học của Đại học Quốc gia Thành Công Taiban Sasala đề cập rằng vào thời điểm đó, các bộ tộc đang thảo luận về việc Công chúa Balenge đến từ bộ tộc nào, dẫn đến cơ hội khám phá văn hóa Drekay. Năm 2017, hội đồng Drekay chính thức được thành lập và bước vào nhiệm kỳ thứ ba.

Bộ tộc Drekay có truyền thống có hệ thống lãnh đạo và hệ thống giai cấp. Nói chung, các thủ lĩnh bộ lạc không tham gia bầu cử dân chủ. Tuy nhiên, hội đồng sử dụng phương thức đề cử của từng bộ tộc để lựa chọn đại diện, tạo sự cân bằng giữa văn hóa bộ lạc và hệ thống xã hội của vùng đồng bằng, để hội đồng có thể đại diện cho toàn thể dân tộc. Các thông báo về phạm vi các khu vực truyền thống, việc khôi phục cây kê, việc đưa báo gấm từ Đông Nam Á tượng trưng cho vật tổ Drekay, v.v., đều được báo cáo tới hội đồng dân tộc Drekay, lấy ý kiến ​​và sự đồng ý của người dân bộ lạc.

Mong muốn có một cơ chế cộng đồng mang tính đại diện hơn cho người dân tộc nguyên trú

Ông Ljegay Rupeljengan chỉ ra rằng, “Mặc dù trước đây các bộ tộc có quyền tham khảo ý kiến ​​và thống nhất, nhưng khi sự việc xảy ra, họ thường thụ động hoặc từ chối. Họ không thể tiến hành các cuộc thảo luận sâu rộng hơn hoặc chỉ đóng vai trò cố vấn. Việc thành lập hội đồng dân tộc có thể chủ động phối hợp với Chính phủ và các đơn vị tư nhân về quyền và lợi ích của các dân tộc, như đơn xin cấp quyền sở hữu trí tuệ đối với các tri thức truyền thống, quy định về sử dụng các lĩnh vực truyền thống, thúc đẩy .”

Ông Taiban Sasala đề cập rằng, khái niệm hội đồng có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Canada. Những dân tộc nguyên trú  ở đó đã thành lập một hội đồng dân tộc để đàm phán với nhau trong nội bộ và liên lạc với chính phủ và xã hội dân sự ở bên ngoài. Khái niệm này đã ảnh hưởng đến dân tộc nguyên trú  Đài Loan và dẫn dắt họ đến với một giải pháp thay thế cho hệ thống hiện tại. Tuy nhiên, cả hội đồng Paiwan và hội đồng Drekay đều cố tình không nộp đơn xin trở thành xã đoàn pháp nhân. Ông Ljegay Rupeljengan cho rằng mối quan hệ giữa hội đồng Paiwan và chính phủ không nên đóng vai trò quản lý và bị quản lý trong cơ cấu pháp lý hiện hành mà là đối tác đàm phán với chính phủ để cùng giải quyết các vấn đề tự chủ của dân tộc.

Savungaz Valincinan, một người dân tộc thiểu số Bunun đã tham gia vào cuộc bầu cử nhà lập pháp năm 2024, luôn nhấn mạnh trong các cuộc phỏng vấn rằng: “Chắc chắn không phải việc thành lập một hiệp hội hay hội đồng dân tộc mới có thể đại diện cho một dân tộc, mà cần có thêm thời gian để thảo luận và xây dựng sự đồng thuận trong nội bộ, tìm ra cơ chế tham gia công cộng để có thể mở rộng sự tham gia và đề cao các chủ đề dân tộc trong thời kỳ đương đại.”

Phương Thảo
 

Phát thanh viên

Phản hồi liên quan