Thời gian gần đây, ở Đài Loan xảy ra một loạt các vụ liên quan tới việc hình ảnh riêng tư bị rò rỉ trên các trang mạng. Trong các video đó, có không ít nhân vật chính là trẻ em, là các thiếu nữ mới lớn bị quay lén, hay bị dụ dỗ ghi hình. Vụ việc này được gọi là “vụ căn phòng thứ N phiên bản Đài Loan”, và những kẻ mua những video riêng tư bất hợp pháp này cũng là tội phạm.
Trong phong trào #MeToo, do có liên quan tới việc mượn cớ chụp ảnh bikini để lạm dụng tình dục mà nghệ sĩ Hoàng Tử Giảo đã bị điều tra. Trong quá trình thu thập chứng cứ, các kiểm soát viên đã phát hiện MC này lưu trữ một lượng lớn các video riêng tư của trẻ vị thành niên được mua từ các trang web bất hợp pháp. Vụ việc này gây xôn xao dư luận và bị chỉ trích mạnh mẽ. Từ những vụ việc này, dư luận cũng quan tâm và thảo luận nhiều hơn về vấn đề bệnh ấu dâm và những tên tội phạm lạm dụng tình dục trẻ em.
Trên thực tế, “bệnh ấu dâm” có hai hình thái, thứ nhất là người có hành vi ấu dâm (pedophilia), thứ hai là người mắc bệnh ấu dâm (pedophilic disorder). Tuy cả hai hình thái này đều có những ham muốn tình dục với trẻ vị thành niên, nhưng người mắc bệnh ấu dâm chưa chắc đã “hành động trên thực tế” với những đứa trẻ.

Thế nào là bệnh ấu dâm? Các nguyên tắc chẩn đoán bệnh này là gì?
Trong xã hội, tỉ lệ người bị mắc bệnh ấu dâm là bao nhiêu? Thật ra rất khó để thống kê, bởi đại đa số con người đều sợ bị dán cái mác này, không đồng ý đi chữa trị, và đại đa số người mắc đều là nam giới.
“Người có hành vi ấu dâm” mà chúng ta thường nhắc tới là chỉ những trường hợp chưa xuất hiện những tổn thương rõ rệt về mặt lâm sàng dẫn đến suy giảm chức năng giao tiếp giữa người với người và với xã hội, chưa tới mức bệnh nặng. Dù cho có xu hướng ham muốn tình dục với trẻ nhỏ, nhưng họ đều có khả năng tự điều chỉnh rất tốt, vẫn duy trì được các mối quan hệ giao tiếp xã giao, hôn nhân như bình thường.
Còn đối với những trường hợp mắc bệnh ấu dâm, thì căn cứ theo nguyên tắc chẩn đoán được viết trong “Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần”, Phiên bản thứ Năm (DSM-5) của Mỹ, cần phải thỏa mãn những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc chẩn đoán thứ nhất: người từ 16 tuổi trở lên có những tưởng tượng, thôi thúc hoặc có hành vi tình dục với trẻ dưới 13 tuổi kéo dài liên tục từ 6 tháng trở lên.
Có điều khi chẩn đoán, với mỗi đối tượng khác nhau, giới hạn về độ tuổi của trẻ mà những đối tượng này nảy sinh ham muốn tình dục cũng sẽ tùy theo tình hình mà có quy định khác nhau, chứ không nhất thiết là con số 13 tuổi. Bởi trẻ em ngày nay đều dậy thì từ rất sớm, có nhiều bé mới học những năm cuối tiểu học mà đã phát triển các đặc điểm giới tính. Do đó, khi tiến hành chẩn đoán y tế, cần phải tiến hành các hoạt động thảo luận với người bệnh như đối tượng của những ảo giác, ham muốn tình dục có phải là trẻ em trước tuổi dậy thì hay không?
Nguyên tắc chẩn đoán thứ 2: do xu hướng tình dục này mà người bệnh có những tổn thương rõ rệt, gặp vấn đề khi giao tiếp giữa người với người, suy giảm chức năng về tâm lý xã hội như có cảm giác tội lỗi, xấu hổ, lo lắng v.v., từ đó không thể nào làm việc như bình thường được, hoặc sau khi kết hôn, do không dám kể với người bạn đời khiến cho mối quan hệ trong hôn nhân gặp trục trặc v.v. và những vấn đề về gia đình, xã hội khác.
Tuy vậy, những chuyên gia nghiên cứu về Thần kinh học rất lo lắng về việc chẩn đoán và mở rộng định nghĩa quá mức với bệnh ấu dâm, khiến cho những người chỉ có hành vi ấu dâm chứ chưa mắc bệnh này bị dán nhãn, và khiến những người đã có biểu hiện lâm sàng không dám tìm kiếm sự giúp đỡ. Vì vậy, trong quá trình thảo luận ấn bản thứ 4 cho tới ấn bản thứ 5 của “Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần”, các chuyên gia đã định nghĩa bệnh này một cách rất khắt khe.
Những tổn thương trong quá trình trưởng thành có dẫn đến bệnh ấu dâm không? Có phát hiện gì mới khi nghiên cứu nguyên nhân hình thành bệnh này hay không?
Dư luận rất tò mò về nguyên nhân hình thành bệnh ấu dâm, nhưng cho đến nay, vẫn rất khó để xác định được những bằng chứng khoa học cụ thể về mối quan hệ nhân quả đối với căn bệnh này. Thông thường thì con người luôn có bản năng là bảo vệ trẻ em, cho nên không có những tưởng tượng về tình dục với trẻ chưa dậy thì. Có một số nghiên cứu của nước ngoài phát hiện, nếu có sự bất thường ở các khu vực “tạo ra sự đồng cảm” và “tạo ra hứng thú tình dục” của não bộ hoặc hormone thần kinh của prolactin (một hormone nội tiết quan trọng được tiết ra bởi thùy trước tuyến yên - người dịch) gặp vấn đề thì người bệnh có khả năng có những tưởng tượng về tình dục với trẻ chưa dậy thì. Nhưng những suy luận này vẫn đang nằm trong giai đoạn nghiên cứu, chưa phải là kết luận y tế, không thể đem áp dụng cho tất cả các trường hợp. Vì thế, trong giai đoạn hiện tại, khi chuẩn đoán, các chuyên gia vẫn dựa vào hành vi của từng người bệnh cụ thể để đánh giá.
Khi truy ngược lại hoàn cảnh những người bệnh, các chuyên gia phát hiện một số yếu tố “có khả năng” là nguyên nhân gây ra bệnh ấu dâm, bao gồm: người bệnh từng bị xâm hại tình dục lúc nhỏ, bản thân từng là người bị hại; gia đình có vấn đề, sự gắn bó, kết nối trong gia đình không tốt; bản thân mắc các bệnh về thần kinh khác, đồng thời các bệnh này ảnh hưởng lẫn tới nhau như rối loạn nhân cách chống xã hội, lạm dụng chất gây nghiện, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, tăng động v.v. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là tất cả những người mắc bệnh ấu dâm đều có những ám ảnh này trong quá trình trưởng thành.
Người mắc bệnh ấu dâm “không có hứng thú” với người trưởng thành sao? Liệu có cách nào chữa trị được không?
Người mắc bệnh ấu dâm được chia thành hai loại: thuần túy và không thuần túy. Với loại thứ nhất, thì người bệnh chỉ có hứng thú tình dục với trẻ em, trong đó tỉ lệ trẻ gái tương đối cao, còn loại thứ hai thì người bệnh có ham muốn với cả trẻ em và người trưởng thành.
Hiện nay, căn bệnh này vẫn chưa có phương pháp điều trị phù hợp, bởi xu hướng tình dục và sự phát triển của não bộ có mối liên quan mật thiết, nên nếu đặt mục tiêu là “chữa khỏi bệnh” thì về cơ bản là rất khó có thể thực hiện được.
Việc điều trị chỉ có thể làm giảm bớt những đau khổ của người bị bệnh khi bị suy giảm khả năng giao tiếp cá nhân và xã hội. Cách điều trị bao gồm dùng thuốc và nhận thức hành vi, đồng thời hướng dẫn người bệnh cách điều chỉnh nằm trong phạm vi mà các quy định của xã hội cho phép, trợ giúp họ xử lý những thôi thúc tình dục của mình.
Điều trị bằng thuốc: thông qua thuốc để giảm ham muốn tình dục, hoặc cải thiện khả năng khống chế của bản thân đối với những thôi thúc đó, chẳng hạn như thuốc ức chế phục hồi hormone huyết thanh, thuốc ổn định tâm trạng v.v.
Điều trị về khả năng nhận thức hành vi: điều quan trọng trong phương pháp này là giảm bớt những vấn đề về suy giảm khả năng giao tiếp xã hội của người bệnh, ví dụ như thông qua giáo dục hay học tập để giúp đỡ những người bệnh đang gặp khó khăn trong việc kết nối với người khác giới có thể xây dựng được một mối quan hệ xã hội hoặc mối quan hệ tình dục lành mạnh, cải thiện trạng thái tâm lý cũng như hành vi; học cách phát hiện những thôi thúc và ham muốn của bản thân, từ đó xây dựng phương thức tự điều chỉnh. Ví dụ, với những ca bệnh trước kia từng bị xâm hại tình dục, hoặc lớn lên trong gia đình tan vỡ thì cần trợ giúp người bệnh hàn gắn những vết thương cũ.
Tuy vậy, điều kiện tiên quyết là người bệnh phải đồng ý tham gia điều trị. Thông thường, tỷ lệ những người mắc bệnh ấu dâm đồng ý trị liệu là rất thấp, đại đa số sợ bị dán mác “ấu dâm” nên không dám bước chân vào các phòng khám khoa Thần kinh. Nếu muốn giảm bớt những khó khăn mà người bị bệnh này gặp phải, cũng như những tổn thương xã hội mà bệnh gây ra thì quan trọng nhất cần cổ vũ người bệnh đi khám, hoặc tìm sự trợ giúp một cách kín đáo từ những trung tâm tư vấn, điều trị tâm lý.
Người bị bệnh ấu dâm có chắc đều trở thành tội phạm xâm hại tình dục trẻ em hay không?
Bệnh ấu dâm và việc phạm tội xâm hại tình dục trẻ em là hai điều hoàn toàn riêng biệt. Xâm hại tình dục trẻ em là một tội danh mà pháp luật quy định, người bị bệnh ấu dâm chưa chắc đã trở thành tội phạm, tất nhiên, giữa hai đối tượng này cũng có một số yếu tố có liên quan đến nhau.
Căn cứ theo số liệu thống kê của các nước, trong số những tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, tỉ lệ bị bệnh ấu dâm chiếm 30-60%, ở Đài Loan, hiện nay chưa có số liệu thống kê có liên quan, điều này chứng minh sự thiếu coi trọng đối với vấn đề này, do đó Chính phủ cần xem xét để tăng thêm những nghiên cứu và điều tra về ấu dâm.
Căn cứ “Pháp lệnh phòng chống bóc lột tình dục trẻ em và người chưa thành niên” của Đài Loan, xâm hại tình dục là chỉ:
- Giao dịch tiền để dùng trẻ em cho những hành vi khiêu dâm hay tình dục
- Có hành động lợi dụng trẻ em để thực hiện những hành vi khiêu dâm hay tình dục nhằm cho người khác xem.
- Quay phim, sản xuất, phân phối, phát sóng, phân phát, trưng bày công khai hoặc mua bán video tình dục trẻ em, và những sản phẩm liên quan tới tình dục của trẻ em như hình ảnh, âm thanh mà theo đánh giá khách quan thấy đáng xấu hổ, hay mang tính gợi dục.
- Có những hành động như yêu cầu trẻ em ngồi quầy bar tiếp rượu, cùng đi du lịch, đi hát, đi nhảy mang tính khiêu dâm
Ngoài ra, hành vi phạm pháp không chỉ là dụ dỗ hay uy hiếp trẻ tự chụp ảnh, mà còn bao gồm truyền bá, lưu hành hay lưu giữ những hình ảnh riêng tư cá nhân của trẻ. Có điều nếu như những người có hành vi ấu dâm hoặc những người mắc bệnh ấu dâm xem ảnh trẻ em (như ảnh chụp ở bể bơi, ở biển) từ trên mạng hay từ những nguồn khác, hoặc xem những bức tranh có liên quan đến trẻ em, thậm chí bản thân tự sáng tác những tác phẩm có chủ đề là trẻ em, rồi từ đó nảy sinh ra những tưởng tượng về tình dục, thì chúng ta cũng biết đấy, những điều này không cấu thành hành vi xâm phạm hay xúc phạm trên thực tế, đồng thời không liên quan đến vấn đề xâm hại tình dục trẻ em.
Do tỉ lệ chủ động tìm kiếm sự trợ giúp của người mắc bệnh ấu dâm không cao, cho tới nay việc điều trị bắt buộc không có tác dụng đáng kể trong việc ngăn ngừa tái phạm hành vi bóc lột tình dục trẻ em, thậm chí một số nghiên cứu còn cho thấy rằng nó sẽ dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ tái phạm. Do đó, một số nơi trên thế giới cố gắng thử nghiệm những phương pháp mới với hy vọng có thể ngăn chặn người mắc bệnh ấu dâm trở thành tội phạm, như “Kế hoạch dự phòng Dunkelfeld, PPD” ở Đức đã xây dựng các trang web cầu cứu sự trợ giúp nặc danh, cung cấp phương án chữa trị miễn phí và mang tính bảo mật cao, hy vọng thu thập, phân tích thông tin của những người cần được trợ giúp để tìm ra những yếu tố nguy hiểm có nguy cơ phạm tội cao, đồng thời đưa ra những phương án dự phòng có hiệu quả. Đài Loan nên hành động như thế nào, điều này cần đến sự đồng thuận của chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau.
Thu Hà





Rti Radio Taiwan International
Rti Radio Taiwan International 
